Thất cầm một thuở

Tác phẩm Việt Nam

Tác phẩm nước ngoài

Nghệ sĩ Guitar

Nguyễn Quang Vinh - Kẻ mắc nợ cây guitar

Saturday, April 2, 2011

"Cha - nghệ sĩ Hải Thoại - đã đến với cây guitar vì… thất nghiệp. Tôi đã được sinh ra từ tiếng đàn dạy thuê của cha. Tôi cũng đang sống bằng tiếng đàn guitar...”.
Nếu ai đó gặp và nói chuyện với nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh một lần chắc không thể quên được hình ảnh một chàng trai ngoài 30 tuổi, cao, gầy, cùng cây đàn trên vai với nụ cười hiền khô luôn nở trên môi. Anh có một lối nói chuyện dí dỏm, vui nhộn khiến cho người đối diện luôn có cảm giác gần gũi, thân thiện và đặc biệt là những câu chuyện của anh luôn diễn biến quanh chuyện cây đàn guitar, từ chuyện đơn giản cho đến chuyện phức tạp nhất đều được anh nói với phong cách khá cuốn hút. Để lý giải điều này anh cười và nói "Hình như mình mắc nợ với cây đàn guitar thì phải".

Được "dân trong nghề" đánh giá là tay guitar có đẳng cấp, nhưng hình như Nguyễn Quang Vinh vẫn chưa hài lòng về mình, cho dù mỗi bước đi của anh trên con đường nghệ thuật luôn có những dấu ấn quan trọng trong sự phát triển của nghệ thuật trình tấu guitar cổ điển thính phòng tại Việt Nam.

Thời thơ ấu

Nguyễn Quang vinh sinh ra trong một gia đình có duyên với cây đàn guitar. Cha anh, nghệ sỹ guitar Hải Thoại, cũng đến với cây đàn guitar một cách tình cờ, như một lương duyên. Khi không có nơi nào nhận ông vào làm việc ông đã tình cờ đến với cây guitar. Lúc đó ông đã không nghĩ rằng cuộc đời ông lại gắn bó với cây đàn guitar, nuôi sống gia đình bằng tiếng đàn và sinh ra một Nguyễn Quang Vinh cũng có duyên nợ với guitar như ông.

Cùng với lời ru của mẹ, cậu bé Vinh được đắm chìm trong tiếng đàn guitar đằm thắm, sâu lắng của cha. Những âm thanh đó quyện vào nhau, thấm dần, thấm dần vào Vinh, tưới mát tâm hồn anh và trở thành niềm đam mê của cậu bé lúc nào không biết. Chính cậu bé Vinh đã đề nghị cha cậu dạy đàn cho cậu khi mới 6 tuổi (thay vì 10 tuổi như cha cậu nghĩ).

Và ở cái tuổi bắt ve, làm nũng mẹ Nguyễn Quang Vinh đã sớm chọn cây đàn guitar làm bạn đời với mình và quả như thế, đến bây giờ cây đàn guitar vẫn là người bạn thân thiết nhất của anh sau 30 năm trôi qua.

Từ vụng dại ban đầu khi Vinh cầm đàn gẩy lên những âm thanh đầu tiên, năm năm sau (1981), Nguyễn Quang Vinh đã là học sinh sơ cấp 1 Nhạc viện Hà Nội với mơ ước rất trẻ con "Học đàn để biểu diễn cho các bạn cùng xem". Và thế là cứ hàng ngày, Nguyễn Quang Vinh đạp chiếc xe cà tàng với cây đàn và cặp lồng cơm rong ruổi vào trường. Ngày nắng cũng như ngày mưa Vinh luôn chăm chỉ, cần mẫn đi lại dệt ước mơ của mình, gửi gắm hoài bão, trăn trở vào cây đàn guitar và cho đến nay, anh vẫn thế, vẫn mãi trăn trở với những hoài bão…

Tuổi thơ của Nguyễn Quang Vinh trôi đi cùng năm tháng và đã bắt đầu để lại những dấu ấn, những kỷ niệm khó phai qua những lần Vinh theo cha đi biểu diễn cùng hội Nghệ sỹ Việt Nam ở khắp các vùng miền trên Tổ quốc. Tiếng đàn của Nguyễn Quang Vinh đã vang lên ở Nam Định, Hải Phòng, Sông Đà, Nghệ Tĩnh... và ở đâu Vinh cũng được đón nhận như một hiện tượng của guitar trẻ. Nói về thời thơ ấu của Nguyễn Quang Vinh, ông Nguyễn Như Dũng, thày giáo dạy guitar của Vinh nhận xét: "Trong suốt những năm tôi dạy thì Vinh luôn là học sinh xuất sắc của khoa. Tôi nhớ có lần tôi đưa các em đi thu thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến lượt Vinh, em chỉ cần thu một lần là xong ngay không cần phải sửa chữa gì cả".

Trưởng thành và những thách thức

Năm 1994 cùng với chương trình tốt nghiệp, trong đó có bản Chacona của F.S Bach, Nguyễn Quang Vinh đã tốt nghiệp ĐH âm nhạc hệ chính quy với số điểm chuyên môn tuyệt đối và được nhà trường giữ lại làm giảng viên. Những tưởng sự trưởng thành của Vinh đó là điều tất yếu anh đạt được sau những năm tháng lao động miệt mài ở trường. Nhưng con đường của Vinh bỗng rẽ sang một hướng hoàn toàn khác khi anh có gia đình riêng với những cơm áo gạo tiền, lo toan rất đời thường.

Khi đồng lương trong trường của anh không đủ cho gia đình tồn tại một cách tằn tiện. Bên cạnh đó, không ai giúp đỡ, không sự động viên khích lệ Nguyễn Quang Vinh không còn lựa chọn nào khác là đành phải gác lại những đam mê, những khát khao nghệ thuật. Anh xin phép tạm nghỉ ở trường để lao ra với bộn bề của cuộc sống, với những gạo củi mắm muối, mà nghề dạy đàn không làm ra được.

Anh ngậm ngùi nói về những ngày khó khăn ấy bằng một giọng trầm buồn man mác: "Tôi đã thấy đó là một sai lầm nghiêm trọng trong sự nghiệp của mình, nhưng ai trong hoàn cảnh tôi lúc bấy giờ thì sẽ nghĩ đó là sự lựa chọn duy nhất và đúng nhất. Sự rủi ro ấy đã đem cho cuộc đời tôi bước ngoặt đầu tiên trong sự nghiệp đàn và nó cũng bắt đầu một chặng đường mới để mỗi khi nhìn lại tôi lại thấy phải suy ngẫm về cái được, cái mất, cái hay cái dở trong cuộc đời mình".

Quăng mình vào những bon chen của cuộc sống, giữa guồng quay khốc liệt của đồng tiền, có lúc Nguyễn Quang Vinh đã nghĩ rằng mình phải đổi nghiệp "Nhưng sau mỗi ngày làm việc căng thẳng trở về thì việc đầu tiên là tôi ôm lấy cây đàn để tự chơi cho mình nghe, tự ru mình vào những giai điệu diệu vợi, mê đắm và huyền bí... Chính tiếng đàn đã giúp tôi không gục ngã trước cuộc sống. Khi tôi ôm đàn và gẩy lên những giai điệu tôi yêu thích và khổ công mới luyện được thì trái tim tôi rung lên những cảm xúc mãnh liệt. Những mệt nhọc tan biến, nó cuốn hút tôi, lôi kéo tôi vào thế giới của những âm hưởng cổ điển bất hủ dành cho dân guitar. Những lúc đó chỉ còn lại tôi với cây đàn..."

Và chính vì những điều như thế mà Nguyễn Quang Vinh đã tìm mọi cách trở lại với con đường nghệ thuật. Mối duyên với cây đàn guitar đã rất tình cờ đưa anh trở lại với nghề để tiếp tục chắp cánh cho ước mơ của anh về cây đàn dần trở thành hiện thực.

Yêu thích, say mê, khát khao cống hiến cho nghệ thuật, nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh đã quyết tâm đi sâu nghiên cứu tìm hiểu cặn kẽ nghệ thuật trình tấu guitar cổ điển thính phòng trên thế giới để xoá bỏ dần quan niệm gần như trở thành mặc định hàng thập kỷ về cây guitar: chỉ là một loại nhạc cụ đệm hát, loại nhạc cụ phong trào, phổ thông trong mọi lớp người. Nhưng con đường của anh bỗng trở nên hẹp hơn khi anh xin quay lại trường và không được tiếp nhận, điều này là lẽ thường trong cơ chế của nước ta, đã làm cho Nguyễn Quang Vinh trở nên trầm lắng hơn, day dứt hơn.

Năm 1997, Nguyễn Quang Vinh chính thức thành lập lại CLB Guitar cổ điển (đã ngừng hoạt động từ năm 1986) và sinh hoạt thường xuyên tại Cung Văn hoá Hữu nghị Việt Xô. Cũng từ đây, Nguyễn Quang Vinh cứ âm thầm làm cái việc "chẳng ai bắt làm" và đã bước đầu đưa cây đàn guitar đến với công chúng Việt Nam trong một diện mạo mới: "Guitar cổ diển thính phòng".

Khi được hỏi về những khó khăn anh gặp phải, Nguyễn Quang Vinh chỉ nói rằng: "Tôi rất hạnh phúc khi mọi người đang nhìn nhận cây guitar trong diện mạo mới. Tôi đã vượt qua những khó khăn không phải có một mình, mà còn có rất nhiều những người khác cũng tâm huyết, yêu mến, say mê và cùng có quan niệm với tôi như ông Ngô Đăng Tuất (Chủ nhiệm CLB), bà Nguyễn Thị Thanh Hương (Hành chính) và tập thể ban cố vấn (Ông Hải Thoại, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Quang Tôn, Đỗ Doãn Hải) cùng với những người trong ban điều hành (Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Xuân Trường, Tạ Quang Hưng, Nguyễn Mai Lan...) Đó là những người đã cùng tôi vượt qua những khó khăn và họ là những người có tấm lòng đáng trân trọng. Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả".

Lần đầu tiên chơi guitar không cần sự trợ giúp của thiết bị điện tử trong khán phòng lớn tại Việt Nam

Với nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh, anh không nghĩ mình đã làm được những gì mà với anh điều quan trọng là cái đích anh hướng tới đang dần thành hiện thực. Nguyễn Quang Vinh muốn chứng minh rằng nền âm nhạc thế giới không phát triển nhờ vào sự khuếch đại của âm thanh bởi âm nhạc đã ra đời và phát triển cao ở thời kỳ phục hưng và theo khuynh hướng trước khi có điện. Anh cho rằng nếu chơi nhạc bằng đàn guitar qua micro thì đã vô tình làm mất đi giá trị âm thanh thực sự của cây đàn.

Nguyễn Quang Vinh đã chứng minh được điều đó qua các buổi biểu diễn thính phòng tại Nhà hát lớn: 2 lần tại nhà gương (khoảng 150 chỗ) và thành công rực rỡ tại buổi biểu diễn ngày 31/10/2004 tại phòng lớn (600 chỗ) bằng cây đàn De Camara của nhà làm đàn lừng danh thế giới Jose Ramirez III sản xuất 1983 - Theo tài liệu về gia đình Jose Ramirez thì cây De Camara làm bằng chất liệu gỗ Jakaranda mọc ở lưu vực sông Amazon có tuổi thọ khoảng 300 năm và khô tự nhiên 40 năm khiến cho âm sắc của cây đàn không to nhưng có độ vang xa nên ai cũng có thể nghe được và nghe như nhau.

Có thể nói đây chính là buổi biểu diễn guitar đầu tiên tại Việt Nam trong khán phòng lớn khiến cho nhiều người cảm thấy ái ngại lo lắng. Nhưng sau 1h30' (nghỉ giải lao 15') trong tiếng vỗ tay oà vỡ ông Đào Trọng Tuyên - một nghệ sỹ piano có tiếng - đã thốt lên rằng "Không một sai sót nhỏ" và tặc lưỡi "Quả là liều lĩnh". Bằng một bài mic C của chương trình để gửi tặng sự ủng hộ của khán giả, dường như Nguyễn Quang Vinh cũng muốn tự thưởng cho chính mình bởi những công sức lao động bền bỉ bao ngày tháng qua của anh đã được khẳng định và ghi dấu ấn bằng những thành quả hữu hiệu.

Quan trọng hơn là anh đã khẳng định lại một lần nữa: Guitar là loại nhạc cụ chơi được âm thanh thính phòng cổ điển và có thể chinh phục những khán phòng lớn mà không sử dụng thiết bị điện tử hỗ trợ. Điều này vẫn có thể xa lạ đối với công chúng Việt Nam nhưng trên thế giới Segovia đã khẳng định từ lâu.

Khẳng định giá trị những cây đàn được sản xuất trong nước

Không dừng lại ở đó, Nguyễn Quang Vinh không ngừng tìm tòi sáng tạo, anh đã nghiên cứu rất kỹ lịch sử phát triển cây guitar và anh khẳng định rằng: "Những cây đàn guitar sản xuất tại Việt Nam cũng có khả năng trình diễn ở những sân khấu lớn như những cây đàn nước ngoài khác mà không hề kém cạnh về chất lượng âm thanh cũng như hiệu quả sân khấu".

Và một lần nữa anh đã "liều lĩnh" đưa cây đàn guitar của nhà làm đàn Đỗ Việt Dũng mới sản xuất khoảng trên 2 tháng tuổi lên sân khấu biểu diễn cùng cây đàn Fleta - Tây Ban Nha (40 tuổi) do ông Kozo Tate sử dụng để biểu diễn vào ngày 13/11/2004 tại rạp Hồng Hà trước sự ái ngại của số đông bạn bè, vì đa phần mọi người đều cho rằng chỉ những cây đàn thật tốt, thật đắt mới có thể chơi không qua micro.

Nguyễn Quang Vinh đã phủ nhận quan niệm này vì anh cho rằng âm thanh phát ra từ cây đàn còn phụ thuộc vào kỹ thuật gẩy thì mới đạt hiệu quả cao. Và Nguyễn Quang Vinh đã đúng khi âm thanh hai tiếng đàn đã vang lên như nhau chẳng khập khiễng là mấy. Sau buổi biểu diễn, anh cho biết: "Tôi đã đắn đo chọn giữa 2 cây đàn trong buổi biểu diễn này. Nếu tôi chọn đàn De Camara thì tôi không chứng minh được về cây đàn guitar Việt Nam, còn nếu chọn đàn Việt Nam thì hơi "thất phép" với nghệ sỹ Kozo Tate, nhưng cuối cùng tôi đã chọn cây đàn Việt Nam để biểu diễn và tin rằng khán giả cũng hài lòng".

Những mốc son trong năm 2005

Có thể nói năm 2005 là năm năm có nhiều sự kiện quan trọng với nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh. Điều làm cho anh hài lòng và hạnh phúc nhất là anh đã chính thức là giảng viên Nhạc viện quốc gia Hà Nội. Đây là điều mà Nguyễn Quang Vinh đã trăn trở suốt 10 năm qua kể từ khi anh phải xin tạm nghỉ năm 1995. Anh cho biết: "Tôi đã ân hận và day dứt rất nhiều khi bước ra khỏi trường, nhưng bây giờ điều tôi mong ước đã trở thành hiện thực. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Nhạc viện Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được làm cộng tác viên trong một thời gian dài để chứng tỏ khả năng của mình cho đến ngày được nhận chính thức".

Ngày 13/04, nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh có buổi biểu diễn Recital tại Nhạc viện Quốc gia do Ban Giám đốc tổ chức. Anh tâm sự: "Đây là buổi biểu diễn quan trọng nhất trong sự nghiệp biểu diễn của tôi từ trước đến nay. Trước đây những thành công tôi thu được mới chỉ dừng ở góc độ dành cho người hâm mộ và yêu mến guitar cổ điển thính phòng và được công chúng ủng hộ. Với buổi biểu diễn này tôi đã một lần nữa được công nhận ở góc độ chuyên môn, vì đến với buổi biểu diễn hôm đó là những bậc thầy âm nhạc, những bậc tiền bối lão thành chơi guitar ở Hà Nội. Họ là những người có khả năng đánh giá chính xác nhất công sức lao động cũng như khả năng chuyên môn của tôi, nên tôi thực sự thoả mãn về mình sau buổi biểu diễn đó".

Đến nay, người ta có thể khẳng định: Nghệ sỹ Nguyễn Quang Vinh thực sự là một guitarist chuyên nghiệp. Mọi hoạt động và việc làm của anh đều diễn ra xung quanh cây đàn. Tôi biết, ở tuổi 36, Nguyễn Quang Vinh còn rất nhiều những dự định trên con đường nghệ thuật. Những khát khao cháy bỏng được cống hiến hết mình cho nghệ thuật luôn là động lực thúc đẩy niềm say mê của anh đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp.

Vĩnh biệt nghệ sĩ guitare Hải Thoại

Hải Thoại là con trai trưởng của nhà soạn kịch Nam Xương nổi tiếng. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Cát Ngạc, người Phù Khê, Từ Sơn (Bắc Ninh). Ông Nam Xương vừa viết những vở kịch nổi tiếng như "Chàng ngốc" (1929), "Ông Tây An Nam" (1930), vừa bí mật hoạt động cách mạng.
Hoạt động tại Hà Nội, ông đã gặp bà Võ Thiện Ngôn ở Huế ra để tránh lùng bắt và hoạt động với nghề nữ hộ sinh (ta quen gọi là "bà đỡ"), thành hôn và về sống ở Nam Định. Chính ở thành Nam năm 1936, cậu con trai đầu lòng đã ra đời. Ông Nam Xương đặt tên cho con mình là Nguyễn Hải Thoại.

Giống như các bậc tài danh âm nhạc ở thành Nam khi trước như Lê Thương, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ..., cậu bé Hải Thoại mê tiếng đàn guitare từ rất sớm. Riêng chuyện chỉ ở với mẹ tại Nam Định, còn bố đi đâu thì không biết cũng đã gieo vào lòng Hải Thoại nhiều trắc ẩn, nhất là việc bố bị kết án tử hình ở mùa thu 1945 (sau này nhờ Cách mạng Tháng Tám, ông Nam Xương đã được cứu thoát). Nhưng với tài năng trời cho, Hải Thoại đã nhanh chóng nổi tiếng là một nghệ sĩ guitare có hạng tại Hà Nội. Việc anh chọn "Bài ca hy vọng" của Văn Ký để chuyển soạn cho đàn guitare cũng như một lời thầm nhủ lòng mình hãy biết hy vọng vào tương lai.

Nhớ quê Bắc Ninh, anh chuyển soạn "Quê em miền trung du" của Nguyễn Đức Toàn. Yêu chèo từ đất Nam Định, anh chuyển soạn "Lới lơ", "Sắp qua cầu"... Và đặc biệt, như để gửi gắm tình cảm của mình vào cuộc chiến đấu ở miền Nam, Hải Thoại đã sáng tác một nhạc phẩm cho guitare mang tên "Mừng chiến thắng Tây Nguyên" bằng ngũ cung Tây Nguyên, được trình diễn tại Pleiku năm 1976. Đấy là sự gặp gỡ âm thầm và kỳ lạ của thời gian.

Ở Hà Nội, không chỉ tạo dựng tài năng cho riêng mình, Hải Thoại đã cùng anh em " tử vì đạo guitare" lập ra nhóm "Thất cầm" gồm các danh cầm như: Nguyễn Quang Tôn, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Văn Tỵ, Vũ Bảo Lâm, Đỗ Trường Giang (đã mất), Đặng Văn Khôi. Ở trong một hoàn cảnh ngặt nghèo của chiến tranh, các anh vừa dạy guitare cho lớp trẻ, vừa là kiếm sống tối thiểu, vừa là đào tạo cho thế hệ sau. Thật khâm phục, khi các anh cùng nhau nghe những tác phẩm của A.Segovia, F.Sor, Villa Lobot... qua đĩa và cố gắng ghi ra thành bản nhạc để có thể tự tập và truyền bá tới học sinh.

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bằng uy tín của mình, Hải Thoại đã cùng các bạn giao lưu với các danh cầm Sài Gòn và tạo nên mối tâm giao thống nhất của "Làng guitare VN".

Gần đây, nhất là sau khi cùng giao lưu với nghệ sĩ guitare người Nhật hồi cuối 2004, Hải Thoại yếu đi rõ rệt. Năm 2007, Hải Thoại và nhóm "Thất cầm" đã được đưa vào ấn phẩm "Nhạc sĩ Việt Nam" dày dặn và trân trọng. Không ngờ "thanh minh vào tiết tháng ba" năm nay, người nghệ sĩ của tiếng đàn guitare réo rắt một thời chiến tranh đã tạ thế vào chiều 2.4 - buổi chiều mưa rây rắc. Xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt anh.

Hải Thoại - “huyền thoại guitar VN” đã ra đi

1. Đầu những năm của 70 của thế kỷ trước, khi cánh con trai mới lớn ở Hà Nội chưa bị mê hoặc bởi rop, rock hay hip-hop… như hôm nay, thì âm nhạc thế giới đến với họ chủ yếu qua các tác phẩm cổ điển. Trong các nhạc cụ phổ biến thời đó, guitar là cây đàn rất được hâm mộ, vì thế được học “đánh” guitar với các thầy Hải Thoại, Tạ Tấn thật sự là niềm tự hào.
Tôi còn nhớ ngày cùng mấy anh bạn dò dẫm đi tìm địa chỉ của các ông với khát khao được nhận làm học trò, vậy rồi, mới nghe phong thanh “Hải Thoại có bố theo giặc vào Nam” thì lên đường nhập ngũ. Đã có không ít đêm nằm hầm trên chốt, nhớ về Hà Nội, chúng tôi nhắc tới các ông với niềm tiếc nuối chưa được gặp mặt. Kết thúc chiến tranh trở về, các chàng trai mơ mộng năm nào không còn thời gian để thực hiện ước mơ thời trai trẻ. Cuộc mưu sinh cuốn đi, mỗi người một việc, chuyện ngày xưa chỉ còn là hoài niệm. Rồi năm 1998, đọc bài báo của PGS Phan Ngọc trình bày một số nét về cuộc đời của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc và vở kịch Ông Tây An Nam, tôi liền tìm hiểu. Và thật may mắn, tôi tìm gặp được các con ông, may mắn nhất là được gặp “thần tượng” của tôi hơn 30 năm trước, đó là Hải Thoại - người con trai lớn của Nam Xương.

Sinh năm 1936 tại Nam Định, từ nhỏ Hải Thoại chủ yếu sống với mẹ - bà Võ Thiện Ngôn (người Huế), còn cha ông là kỹ sư công chính nên đi biền biệt. Hình như chất nghệ sĩ từ Nam Xương vẫn được truyền lại trong những người con, ngoài Hải Thoại là cây guitar lừng danh, trong gia đình còn có chị Nguyễn Thị Phương Hạnh - nghệ sĩ piano nổi tiếng ở TP.HCM hiện nay.

Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc đã dấn thân vào với cách mạng và hẳn là ông không biết từ ngày ông vào Nam hoạt động tình báo thì con trai ông là Hải Thoại đã trở thành “trụ cột” của gia đình theo đúng nghĩa đen của khái niệm này. Đầu những năm 50 của thế kỷ trước, Hải Thoại lên Hà Nội học trường Bưởi, và tốt nghiệp tú tài ban toán. Từ đây, Hải Thoại bắt đầu say mê guitar. Ông kể với tôi, một lần Tạ Tấn và một số nghệ sĩ guitar ở Hà Nội tổ chức biểu diễn, ông lò dò đến “sờ” vào cây đàn; bị người bảo vệ đuổi huầy huậy, ông tức lắm, về mua đàn và tìm sách vở, quyết tâm tự học. Về sau, ông và Tạ Tấn trở thành bạn vong niên.
2. Nhắc đến Hải Thoại, người yêu guitar ở Hà Nội và cả nước đều biết số phận ông rất vất vả. Đúng vậy, vì nhiệm vụ mà Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc buộc phải mang tiếng “theo giặc vào Nam” và các con ông đều phải chịu nhiều thiệt thòi, nhất là về đường học hành. Hải Thoại cũng vậy, học được hơn một năm thì phải rời khỏi trường Đại học Sư phạm, ông về chơi đàn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, sau đó dậy tư và làm thêm ở Nhạc viện Hà Nội. Năm 1976, sau khi cha ông được công nhận là liệt sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã mời ông về làm hợp đồng ở Nhạc viện Hà Nội, năm 1979 ông vào biên chế, và làm giảng viên đến ngày về hưu.

Gần gũi ông tôi hiểu, sự vất vả của Hải Thoại không chỉ ở sự học hành mà còn ở cuộc mưu sinh. Có lẽ không ai biết thời chiến tranh phá hoại, gia đình sơ tán ở Thuận Thành (Hà Bắc), Hải Thoại từng phải làm “trâu”, è lưng kéo cần hai thớt đá ép mía, lấy tiền phụ thêm với mẹ nuôi các em.

Về điều này, con trai ông là Nguyễn Quang Vinh - nghệ sĩ guitar, giảng viên tại Nhạc viện, đã kể: “Guitar không phải là niềm mơ ước của cha khi còn thiếu thời, cũng không phải là con đường cha chọn khi bắt đầu lập nghiệp. Nhưng đó như là một nghiệp kiếp, một món nợ nần phải trả. Bởi vậy, với cha và cả với tôi, tiếng đàn guitar không chỉ là những âm thanh được chắt lọc từ trí tuệ của người nghệ sĩ mà còn là nỗi niềm của mỗi số phận, mỗi con người... Vì chẳng ai chơi, chẳng ai dám lại gần, giúp đỡ, cũng không ai nhận cha làm bất cứ việc gì nên cha phải dạy đàn tư để kiếm thêm tiền, mua gạo chợ đen về nuôi vợ con. Mẹ tôi do suy nghĩ nhiều, lại cũng bị ảnh hưởng bởi tai tiếng nhà chồng nên phải nghỉ mất sức. Một mình đối mặt với “cơm áo gạo tiền”, nhờ vào cây guitar mà cha đã nuôi hai anh em trai tôi khôn lớn. Chính vì thế mà cha thường nói: “Gia đình mình mắc nợ cây guitar!”...”.
3. Vậy mà sự vất vả trong kiếm sống và cả tình trạng “bị xúc phạm về danh dự” nữa, vẫn không làm suy giảm tình yêu nghệ thuật và ý chí của một bậc thầy. Tiếng đàn guitar điêu luyện và đầy ắp tâm hồn của Hải Thoại đã thu hút công chúng yêu nhạc, các bản nhạc Trăng sáng đôi miền, Mừng Tây Nguyên chiến thắng, Bài ca hy vọng, Quê em miền Trung du... do Hải Thoại soạn cho guitar hoặc soạn từ các ca khúc nổi tiếng như đã trở thành tác phẩm cổ điển của người học và chơi guitar Việt Nam. 
Hơn thế nữa, hẳn ít người biết từ năm 1979, ở Nhạc viện Hà Nội, Hải Thoại là người viết giáo trình dạy guitar và đề xuất thay dây sắt của đàn guitar trước đây bằng dây nilon, dạy đàn theo phương pháp cổ điển, từ kỹ thuật cầm đàn tới kỹ thuật diễn tấu... Đến hôm nay, những yêu cầu đó đã trở thành việc bình thường nhưng dù thế nào thì vẫn phải nhớ đến công lao của người đi trước.

Sau hơn nửa thế kỷ gắn bó với guitar, Hải Thoại có nhiều thế hệ học trò. Từ sự dìu dắt và chỉ bảo của ông, nhiều nghệ sĩ guitar Việt Nam đã và đang tiếp tục con đường nghệ thuật với nhiều cống hiến mới. Ngay sau khi được tin ông qua đời, trên viet-guitar.vn đã có một topic về sự kiện này, ở đó tên tuổi của Hải Thoại gắn liền với các danh hiệu “một người nghệ sĩ lớn của Guitar Việt Nam”, “một ngôi sao trong Thất tinh Tây bán cầm”, “một huyền thoại guitar Việt Nam” và tôi tin ông - Hải Thoại, hoàn toàn xứng đáng với sự tri ân của họ và của mọi người yêu guitar ở Việt Nam.
 
 

Thành công từ sự đam mê

Ông Nguyễn Tỵ là một võ sư có tiếng, một cây guitar cự phách trong nhóm "Thất cầm" - huyền thoại của giới trẻ yêu guitar Hà Nội những năm 60, 70 thế kỷ trước. Ông là người yêu cả võ, cả văn nghệ và gắn bó như máu thịt của mình. Giờ tuổi đã cao, nhưng ông vẫn cần mẫn dạy võ, dạy đàn.
Dáng ông dong dỏng cao, dù đã hơn 70 tuổi nhưng còn thanh thoát, hoạt bát, người ta bảo nhờ luyện võ và yêu guitar mà có được. Giờ ông vẫn là Trưởng môn phái Nam Hồng Sơn được sáng lập bởi cha ông là võ sư Nguyễn Văn Tộ (1895-1984), còn có tên là Sáu Tộ, là võ sư nổi tiếng trong làng võ miền Bắc. Võ sư Nguyễn Tỵ đã được cha truyền dạy võ nghệ từ năm lên 9, và năm 17 tuổi ông bắt đầu dạy võ cho thanh niên, đội tự vệ quê nhà, gìn giữ trật tự, an ninh cho làng xóm (xã Văn Hội - Thường Tín, Hà Nội). Đến năm 1984 võ sư Nguyễn Văn Tộ qua đời, truyền lại ngôi Trưởng môn phái Nam Hồng Sơn cho con trai cả Nguyễn Tỵ.
Được sự giúp đỡ của Sở Thể dục Thể thao Hà Nội, cộng với niềm đam mê và khả năng cá nhân, môn phái Nam Hồng Sơn đã khởi sắc, đã tuyển sinh và phát triển với 14 võ đường hoạt động vệ tinh trong các nhà văn hóa và các trung tâm thể dục thể thao tại Hà Nội. Nhờ có nhiều huấn luyện viên, võ sư giỏi, có chuyên môn giảng dạy nên môn phái thường xuyên có võ sinh theo học, có thời kỳ lên đến hàng ngàn em. Môn phái đã đóng góp nhiều võ sinh tham gia vào các kỳ Đại hội Thể dục Thể thao, các kỳ thi Olympic, SEA Games... và đoạt nhiều HCV thế giới.
Võ sư Nguyễn Tỵ nói rằng, Nam Hồng Sơn có các bài tập khí công, nội công với mục đích nâng cao thể lực cho môn sinh, từ đó tiếp thu các bài quyền cước, dùng 18 loại binh khí cho linh hoạt, tốt hơn. Giáo trình dạy không ngừng được cải tiến, có lời dẫn để võ sinh dễ học, dễ nhớ. Nam Hồng Sơn cũng có truyền thống thu nhận môn sinh khắt khe, tiêu chuẩn đầu tiên phải là nhân cách, tư chất. Ngoài dạy võ cũng hướng đến dạy đức để võ sinh có võ đức. Học võ là để rèn luyện sức khỏe và tự vệ, chứ không phải để làm điều ác. Nam Hồng Sơn là môn phái võ kết hợp uyển chuyển giữa hai dòng võ Trung Hoa và võ cổ truyền Việt Nam.
Trong môn phái Nam Hồng Sơn hiện nay còn gìn giữ được một số bài võ cổ thuộc chương trình thi võ của triều Nguyễn trước kia. Võ thuật Nam Hồng Sơn có sự biến hóa thật tài tình, nó làm tăng sức mạnh, sức bền cho con người. Nói đến quyền pháp của Nam Hồng Sơn không thể không kể đến những bài quyền như La Hán quyền, Mai Hoa quyền... đây là những bài quyền tạo cho con người sự lanh lẹ đi kèm cùng với sức mạnh, rồi đến kiếm pháp, côn pháp... Năm 1998, võ sư Nguyễn Tỵ vinh dự là một trong 5 võ sư được Ủy ban Olympic Quốc gia phong tặng danh hiệu võ sư cao cấp.
Nguyễn Tỵ say mê chơi guitar.
Ngoài say mê võ thuật, võ sư Nguyễn Tỵ còn rất mê đàn guitar và có thể ôm đàn hàng giờ để chơi những bài mình thích. Trong một lần đi sơ tán, Nguyễn Tỵ tình cờ được một vài người bạn rủ đi chơi. Cả nhóm gặp một người vừa chơi guitar vừa hát rất hay. Tiếng hát và tiếng đàn nồng ấm của cây đàn guitar... hớp hồn Nguyễn Tỵ, chàng trai lúc đó cũng ao ước mình có thể chơi được như thế.
Trở về Hà Nội, ông mày mò tìm kiếm tài liệu, tự luyện tập ngón đàn. Đến khi gặp duyên kỳ ngộ, kết thân với nhóm bạn - vốn đều là "dân nghiện" guitar như Hải Thoại, Vũ Bảo Lâm, Phạm Văn Phúc..., chàng Nguyễn Tỵ mới thật sự trở thành "tín đồ" của môn nghệ thuật này. Ông nhớ lại: "Giữa bom đạn ác liệt của những năm 60-70, nhóm guitar cổ điển của chúng tôi gồm Hải Thoại, Vũ Bảo Lâm, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Quang Tôn, Nguyễn Tỵ, Đặng Quang Khôi và Vũ Trường Giang được nhiều bạn trẻ yêu mến vì họ say tiếng guitar. Anh em vui buồn có nhau, thường tụ tập nhau kiếm sách, kiếm đĩa rồi tập, rồi chơi ở công viên, Rạp Công nhân, CLB Đoàn kết...".
Nhóm guitar của Nguyễn Tỵ và các bạn tự nghe tiếng mà tìm đến nhau, đã tụ tập, giúp nhau học và chơi cùng từ năm 1956. Và phải mãi đến năm 1973, khi lần đầu tiên nhóm 7 người chơi guitar được mời cộng tác với Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, rồi được Hội Nhạc sĩ Việt Nam thành lập câu lạc bộ, được đặt lịch biểu diễn thì giới trẻ Hà Nội lúc đó càng mê mẩn tiếng guitar hơn. Các lớp học guitar cũng sôi nổi và phát triển từ đó. Nhóm "Thất cầm" được truyền tụng mãi trong giới guitar cổ điển Hà Nội mãi cho tới nay.
Ham mê tìm tòi, khám phá và thật sự mong muốn phát triển phong trào guitar, cùng với các danh cầm khác như Tạ Tấn và Hải Thoại, Nguyễn Tỵ đã cố công soạn các ca khúc như: "Tiếng đàn Talư", "Hà Nội mùa thu", "Vui mở đường", "Bài ca Hồ Chí Minh", "Ngày mùa"... thành những tác phẩm dành riêng cho cây đàn guitar cổ điển. Nhóm "Thất cầm" đều những người chơi đàn cừ khôi, nhưng mỗi người một phong cách, một thế mạnh và điều đó đã được họ tận dụng để bổ sung, tương trợ và giúp nhau cùng tiến bộ.
Đối với võ sư Nguyễn Tỵ, võ nghệ và âm nhạc tuy là hai loại hình văn hóa khác nhau, nhưng tựu trung chỉ là một, bởi cả hai thứ đều cùng là nghệ thuật. Ông nói rằng, hoạt động cơ bắp không ảnh hưởng gì đến ngón tay đàn và quả tim đập vì nghệ thuật. Khi luyện võ, căng cơ, chỉ cần nghỉ ngơi 15 phút là lại chơi đàn được bình thường. Hai năm nay, Nguyễn Tỵ mỗi tuần chỉ đứng lớp 1 buổi vào sáng thứ Bảy nhằm tập huấn cho các HLV của môn phái. Về già, ông và những người bạn trong "Thất cầm" như Bảo Lâm, Phạm Văn Chung, Quang Tôn vẫn thân thiết với nhau, đàn cho nhau nghe và chia sẻ kinh nghiệm với học trò. Tình bạn của họ bao nhiêu năm vẫn khăng khít, không gì thay đổi. Lớp học đàn của ông ở một con hẻm trên phố Hồng Mai vẫn nhộn nhịp học trò. Tiếng đàn tha thiết du dương vẫn ngân lên, ngân lên như mấy mươi năm qua. Cảm như càng có tuổi, tiếng đàn của ông càng trong trẻo, thanh thản và dịu êm.
Tiếng guitar và niềm đam mê nghệ thuật đã giúp cho tâm hồng Nguyễn Tỵ được vui vẻ, luyện và dạy võ rèn luyện sức khỏe. Có phải vì thế mà một ông già hơn bảy mươi như ông trẻ hơn tuổi đến gần mười tuổi. Thời trai tráng sôi nổi của Nguyễn Tỵ đã qua đi, với hai niềm đam mê là võ thuật và đàn guitar. Ông bảo nếu được chọn lại, ông vẫn muốn hai thứ ấy

Nhớ về Hà Nội

Wednesday, March 23, 2011

Sinh ra và lớn lên trên thành phố cảng nhưng nghệ sỹ Phạm Lợi đã có nhiều kỉ niệm gắn bó với thủ đô và những con người Hà Nội. Sau lần về biểu diễn tại câu lạc bộ guitar cổ điển Cung văn hóa Hữu Nghị, trước tình cảm mến mộ của khán thính giả và sự chân tình yêu quý cuả các bạn bè, nghệ sỹ Phạm Lợi muốn bày tỏ tất cả tấm lòng của mình cùng nỗi nhớ thủ đô qua bài soạn ca khúc "Nhớ về Hà Nội" của nhạc sỹ Hoàng Hiệp.
Mở đầu với những âm vang như tiếng chuông lung linh trang trọng, toàn bộ bài soạn toát lên một sự tìm tòi công phu với những hòa âm đặc sắc, những đoạn phát triển phong phú đa dạng về hình thức, sâu lắng về tâm tư, thể hiện nhiều sắc thái rung động của tình cảm chân thực. Cùng với tiếng đàn chín chắn, tinh tế của Thanh Hằng tác phẩm xứng đáng là món quà trân trọng của nghệ sỹ Phạm Lợi gửi tặng những người yêu guitar của thủ đô Hà Nội.

Adelita

Tuesday, March 22, 2011

Con bé bước về phía máy tính và lặng lẽ nhấn nút Power. Trước mặt nó đã là những bản nhạc thân quen. Mỗi lần Hà Nội mưa đêm con bé thường chọn cho mình một list dài những bản piano thánh thót và trong trẻo. Nhưng hôm nay nó lơ đãng, và click nhầm. Nó đã click vào Adelita, cái tên artist Francisco Tarrega hiện ra, chứ không phải Richard Claydeman hay Giovanni quen thuộc. Thôi kệ, hôm nay thử cảm giác.

Con bé cố nhớ những gì nó đã đọc về người nhạc công, nhạc sĩ mù Tarrega - cái tên đã trở nên quá quen thuộc với những người học guitar và mê guitar. Mà nó không thuộc số họ. Nó chỉ thích ở một thời điểm nào đó, và một vài bản nhạc nhất định nào đó. Nó không rành về guitar, chỉ biết một chút. Cái khoảnh be bé ấy đủ để nó nghe và cảm thấy đặc biệt cho riêng mình nó thôi. Adelita là 1 cái gì đó quan trọng trong khoảnh bé xíu ấy. Nó đã nghe Adelita nhiều lần lắm rồi, nhưng lần này đặc biệt, bởi nó không nghe Adelita độc tấu, mà là hoà tấu. Với mưa.

Ngoài kia là mưa, những giọt nước mưa rượt đuổi nhau rồi rơi xuống. Tiếng những giọt nước lướt nhẹ qua nhau, chạm khẽ vào nhau. Con bé thích lắng nghe thanh âm trong trẻo vang lên theo mỗi sự cọ xát giữa những khối nước mềm mại ấy. Những giọt nước thi nhau chuyển động vẫy vùng để được vang lên trong bản nhạc tưởng chừng dài vô tận.

Adelita réo rắt bên tai nó. Sắc. Dịu. Chậm.
Nó có cảm giác như người chơi đàn chơi thật chậm để chạm được hết vào từng âm thanh đang vang lên. Người chơi guitar này giống ai nhỉ? ai nhỉ? Nó cố lục lọi lại trí nhớ? Nhạc của Tarrega mang những sắc màu của âm nhạc dân gian Tây Ban Nha. Nó nhớ ra rồi?Có phải là người lặng lẽ đệm guitar cho từng vũ điệu flamenco đầy sức sống trên mảnh đất ấy? Đúng là cái dáng vẻ ấy, dáng vẻ điềm tĩnh đã làm cho nó từng tự hỏi rằng vì sao vũ điệu flamenco bồng bềnh rực lửa như thế mà luôn có bóng một nghệ sĩ đệm guitar trầm ngâm.

Mưa vẫn rơi. Adelita hoà vào với mưa lạ lắm. Nếu mưa là một khối mềm và trong thì Adelita là một lá cỏ sắc. Lấy cái lá cỏ ấy cứa vào giữa giọt nước sẽ cảm thấy được tiếng guitar cắt những giọt thuỷ tinh làm bằng mưa sắc, ngọt đến mức nào. Và thử nhìn xem, khi cứa một cọng cỏ vào giữa giọt nước thì màu cỏ xanh thế nào, long lanh thế nào, để thấy rằng những tiếng guitar kia không thể không kiêu hãnh khi biết mình đẹp nhường ấy trên bản nhạc mưa.

Khi Adelita vang lên kiêu hãnh thì mưa im lặng. Nếu mưa không im lặng, làm sao những thanh âm của Adelita lại căng ra rõ ràng đến thế được? Và khi Adelita chạm được vào góc im lặng trong con bé thì mưa bắt đầu ồn ào. Cứ đuổi chạy mê mải như thế?

?..

Vẫn mưa?
Nhưng người nhạc công đã không còn chơi nữa?
Kết thúc của mưa là những giọt nước trong vắt.
Kết thúc của Adelita là những tiếng mảnh rớt vào khoảng mênh mông.
Adelita kết thúc, và rồi sẽ có lúc cơn mưa đi qua. Chỉ còn lại một chút gì đó, cho riêng ai đó?

?..

Con bé mỉm cười. Click nhầm vào một bản nhạc khác và một chút ngẫu hững đêm mưa không phải là một điều dở. 

 

Francisco Tárrega (1852-1909)

Cho đến ngày hôm nay, bản nhạc Recuerdos de la Alhambra (Hồi tưởng về Alhambra) cho tây ban cầm cổ điển với ngón rung tremolo toàn bài vẫn nối tiếng và được giới âm nhạc yêu mến. Tárrega là một nhà soạn nhạc của xứ Tây Ban Nha và là một danh cầm thủ của thế kỷ 19. Ông đã tạo ảnh hưởng lớn và đóng góp rất đáng kể cho sự phát triển nhạc tây ban cầm cổ điển. Ông được xem như là "cha đẻ của kỹ thuật trình tấu tây ban cầm cổ điển tân thời" và được mến mộ như "Sarasate của tây ban cầm" (Sarasate là danh cầm thủ về vĩ cầm).
Recuerdos de la Alhambra được sáng tác với cảm hứng từ cảnh trí của Alhambra, lâu đài của vua người Hồi Giáo, xây vào thế kỷ thứ 13 tại vùng Granada, miền Nam xứ Tây Ban Nha. Một bản nhạc khác cũng được phổ biến rộng rãi và đầy tình cảm của Tárrega là Lágrima (Giọt lệ). Ngoài công việc soạn nhạc, Tárrega đi trình tấu khắp nơi và dạy nhạc. Ông mất ở thành phố Barcelona, Tây Ban Nha ngày 15 tháng 12 năm 1909, lúc mới 57 tuổi
Thời Niên Thiếu của Tárrega
Francisco de Asís Tárrega y Eixea sinh ở Villareal, vùng Castellón, ven biển Địa Trung Hải xứ Tây Ban Nha. Thuở nhỏ học ở Castellón và Valencia. Năm 1874, Ông vào học 3 năm ở Nhạc Viện Madrid và đã được giải nhất về cả 2 môn soạn nhạc và hòa âm.
Những bản nhạc Tárrega hay trình tấu Ngoài những bản ngắn của Tây Ban Nha còn có những bản soạn lại cho tây ban cầm từ nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Bach, Mozart, Beethoven, Verdi, Chopin ... cũng như các bản của nhạc sĩ trong xứ như Granados, Albeniz ...
Lưu Diễn Âu Châu
Được xem như người tiên phong cho phong trào tây ban cầm tân thời, Ông đã trình diễn độc tấu ở nhiều quốc gia ở Âu Châu trong đó có Pháp (Paris, Nice, Perpignan), Tây Ban Nha (Cadiz, Valencia, Mallorca, Barcelona), Anh Quốc (London) ...
Giáo Sư Âm Nhạc
Tárrega là Giáo sư bộ môn tây ban cầm ở Nhạc Viện Madrid. Ông đã thiết lập phương thức giảng dạy hiệu quả như cách ôm đàn trên một chân được nâng cao lên và những nguyên tắc sử dụng bàn tay trái và phải.
Nhà Soạn Nhạc và Tác PhẩmNgoài những bản soạn lại cho tây ban cầm từ các nhạc sĩ khác, Tarrega còn có nhiều bản nhạc mở đầu (prelude) và một số bản nhạc được phổ biến rộng rãi và nổi tiếng. Bản Capricho Arabe viết để riêng tặng cho Breton, nhà sọan nhạc và bạn thân. Bản Danza Mora, sáng tác ở Algeria khi gặp Saint-Saens (nhà soạn nhạc Pháp nổi tiếng với bản Danse Macabre). Bản nhạc Oremus được sáng tác 2 tuần trước khi Ông qua đời. Ông để lại 78 bản nhạc gốc và 120 bản nhạc soạn lại cho tây ban cầm.
Di sản của Tárrega
Ông không chủ tâm viết nhạc để giảng dạy nhưng phương cách và kỹ thuật trình tấu của Ông đã được những học trò như Pascual Poch và Emilio Pujol viết lại trong nhiều bộ sách sư phạm vẫn còn được dùng đến ngày nay.
Tárrega đã tạo ra một thứ âm thanh đặc biệt lãng mạn, nhiều cá tính của xứ Tây Ban Nha cho những người yêu tây ban cầm cổ điển nói riêng và làm giàu cho âm nhạc thế giới nói chung.

Maria-F.Tarrega

Francisco Tarrega (1852-1909) là một nhạc sĩ sáng tác và trình tấu ghi-ta cuối thế kỷ 19, người Tây ban nha, tiêu biểu cho thể loại nhạc lãng mạn của thời kỳ này.
Ông để lại rất nhiều bài độc tấu nổi tiếng, được yêu thích cho đến ngày nay. Bài Maria được ông ghi "Gavota" là một thể điệu dựa trên một điệu vũ cổ xưa.

Concierto de Aranjuez

Joanquin Rodrigo có một người vợ tên là Victoria Kamhi. Khi được hỏi về hoàn cảnh ra đời chương 2 này, bà từng nói rằng: "Đó là những tháng ngày hạnh phúc trong tuần trăng mật của chúng tôi, khi hai người cùng sánh đôi trên con đường trong cung điện ở Aranjuez. Đó, là một bản tình ca". Và với những lý do như thế, bản nhạc ra đời với tên gọi Concierto de Aranjuez.
 
Nhưng sự thực phải chăng đúng là như vậy...
 
... Kamhi đã phải nhập viện trong tình trạng hết sức nguy kịch khi đang mang thai đứa con đầu lòng của mình. Từ bệnh viện trở về nhà, Rodrigo đã dành trọn cả một đêm, một mình, trong bóng tối, viết nên chương 2 concerto này. Đó có lẽ là thời điểm đáng buồn nhất trong cuộc đời vợ chồng ông. Họ đã rất mong muốn, rất hi vọng về đứa trẻ. Vậy mà, Chúa đã không cho ông đôi mắt, và giờ còn đem theo cả đứa bé đi...
 
Mở đầu chương 2 với tiếng kèn oboa buồn bã, thổi những ký ức xa xăm, nhuốm màu u tối che phủ cung điện ở Aranjuez. Những tiếng rải nhẹ, đều đặn của guitar xen lẫn tiếng kèn như bàn tay đang gạt những đám mây ký ức, giúp Rodrigo kết nối với ánh sáng của cuộc sống, và trên hết cảm nhận được sự hiện hữu của Chúa trời.
 
Ngay sau đó, chủ đề tác phẩm đã được hiện lên. Cây đàn guitar cất tiếng. Nó như một lời van xin Chúa hãy giữ lại mạng sống cho vợ và đứa con đầu lòng của ông, đầy thống thiết, nhưng không quỵ lụy. Sự đối đáp diễn ra liên tục giữa cây đàn - người nhạc sĩ mù, với dàn nhạc - Chúa trời. Có những lúc âm thanh được cân bằng. Có những lúc, dàn nhạc nổi lên, át hẳn tiếng đàn guitar. Cảm giác rằng con người, khi đứng trước Chúa trời, thật là bé nhỏ...
 
Giằng co...
 
Và bỗng dưng, dàn nhạc im bặt. Chúa đã ngừng lại. Chỉ còn tiếng cadenza của guitar. Sự dằn vặt nổi lên. Mọi thứ ngày càng trở nên hướng nội, và đồng thời như tìm kiếm chút lay động từ Chúa.
 
Kêu gọi, nhưng không có ai trả lời. Sự im lặng đến đáng sợ của dàn nhạc khiến cho người nghệ sĩ càng trở nên bức bách trong tâm trí. Tốc độ, âm thanh được đẩy cao lên tới đỉnh điểm. Toàn bộ khối óc, cơ thể dường như căng ra. Và, ngay trước cái đỉnh điểm ấy, một tiếng rải nốt bất thường vang lên đầy đột ngột. Thân mình người nghệ sĩ dường như khẽ giật nảy lên theo tiếng rải, dồn toàn bộ sinh lực vào trong cơ thể...
 
ĐỈNH ĐIỂM! Sợi dây vô hình giữa Chúa và người nhạc sĩ mù đột nhiên căng lên. Cả hai đang cố gắng hết sức kéo nó về phía mình. Tiếng rasg điên cuồng của guitar.
 
GÀO THÉT, PHẪN NỘ, ĐIÊN CUỒNG, HOẢNG LOẠN!!!
 
Giờ đây tâm trí ông không còn nghĩ được gì cả, việc duy nhất có thể làm, đó là giữ chặt sợi dây vô hình trong tay.
 
PHỰT! Âm thanh khô khốc của tiếng pizzicato của bè dây vang lên. Sợi dây giờ đây thật mỏng mảnh.
Gần như ngay lập tức, tiếng gạt dây điên cuồng lại nổi lên, như nỗ lực cuối cùng giành lại những gì của mình.
 
PHỰT! Vẫn âm thanh khô khốc của dàn dây.
 
Lần thứ ba, lại là sự gào thét cuồng nộ trên những dây đàn. Chỉ khác rằng, không gian bỗng im bặt. Sợi dây đã đứt. Và giờ là lúc Chúa lên tiếng. Chủ đề tác phẩm lại được tái hiện, nhưng giờ đây là bởi dàn nhạc. Cây guitar lặng im, như chấp nhận số phận của mình. Kamhi được cứu, nhưng đứa bé đã mãi ra đi. Đoạn nhạc đẩy được lên đến cao trào của cảm xúc, sự vỡ òa của con tim, và nước mắt...
 
Bè dây của dàn nhạc giảm dần, và cây đàn guitar nhẹ nhàng lên tiếng. Từng nốt chậm rãi, và lên cao. Giờ đây, ẩn dưới tiếng đàn không còn là việc giành giật sự sống, không còn là lời van xin thống thiết nữa, mà đơn giản, đó là hình ảnh đứa bé đang bay lên thiên đường, với kết thúc bằng những bằng âm bồi trong vắt.
 
Đứa bé đã về với Chúa, khi chưa kịp nhìn mặt cha mẹ mình dù chỉ một lần...
 

Augustin Barrios

Agustin Barrios Mangoré (1885-1944) được mọi người biết đến như một trong những đệ nhất danh thủ ghita, và một nhà soạn nhạc ghita vĩ đại với những tuyệt tác soạn riêng cho nhạc cụ này. Ông là nhạc sĩ người Paraguay, nỗi tiếng khắp châu Mỹ Latin và châu Âu vào những năm 30 với kỹ thuật siêu tuyệt phô diễn hết các tính năng kỹ thuật của cây đàn ghita.
Barrios cũng từng là giáo sư âm nhạc tại một nhạc viên lớn. Nhưng ông lại là người không biết giữ gìn và quãng bá các tác phẩm của mình. Nhiều bản nhạc bị thất lạc mà về sau người ta chỉ có thể dựa vào các đĩa thu những buổi hoà nhạc của ông để ký âm lại. Một số bản khác được thu thập lại từ bạn bè sau khi ông qua đời, những bản nhạc mà ông tặng cho họ. Một điều thú vị khác là ông thay đổi liên tục tác phẩm của mình trong những lần trình diễn khác nhau nên thường có nhiều dị bản trong âm nhạc của Barrios. Nhưng thật ra, các dị bản này không khác nhau mấy. Tất cả đều mang nét "Barrios" không lẫn với âm nhạc của các bậc thầy khác.
 

Là thiên tài âm nhạc, Barrios cũng còn là một trí thức hiểu biết sâu rộng, quan tâm đến triết học, làm thơ, biết nhiều ngôn ngữ, và khi trẻ có lúc ông sinh sống bằng hội hoạ và nghề báo.

Âm nhạc của Barrios chỉ được đánh giá đúng với tầm vốc nghệ thuật của nó khi ông không còn nữa. Ngày nay, khó có một buổi biểu diễn ghita nào mà thiếu vắng âm điệu của nhạc Barrios. Khó có một cầm thủ nào mà không có vài tác phẩm của Barrios trong repertoire của mình.

Người ta ví Barrios là nhà thơ trên cây đàn ghita, cũng như nhà thơ Chopin trên đàn piano. Người khác lại gọi Barrios là Bach của ghita. Cả hai so sánh như thế thật chí lý. Bản La Catedral của ông làm ta liên tưởng đến những bài fugue của Johan Sébastien Bach viết cho organ. Thực ra chính tiếng organ ai đó đang chơi nhạc Bach vang ra từ một thánh đường đã tạo cảm hứng để Barrios sáng tác bài La Catedral.

Tuy nhiên, chơi được nhạc của Barrios không đơn giản chút nào. Các tác phẩm của ông đa phần là rất khó, đòi hỏi kỹ thuật và luyện tập rất nhiều. Nhất là sự điêu luyện của bàn tay trái. Có người đùa là chơi xong một bản nhạc của Barrios thì mỏi cả tay. Quả thực là vậy! Trong bài Choro da Saudade và bài Un Sueno en la Floresta có những thế bấm tay trái phải dang rộng các ngón dàn trãi cả 5-6 ngăn đàn! Cũng trong bài Un Sueno en la Floresta , Barrios cho giai điệu lên cao vút vượt khỏi giới hạn cho phép của cây đàn bình thường đến một phím. Nghệ sĩ John Williams có nói để biểu diễn được bài nhạc này ông phải dán thêm vào cây đàn một que diêm nhỏ để tạo ngăn đàn thứ 20 (ghita chỉ có 19 ngăn!).

Tác phẩm sau cùng vào cuối đời của Barrios là bản Una Limosna por el amor de Dios. Bài này kỷ thuật trémolo áp dụng xuyên suốt. Đây là tuyệt tác trémolo có thể sánh với Recuerdos de Ahlambra của Francisco Tarrega.

Andre Segovia, "cầm thủ vĩ đại", "ông tổ ghita" đã từng gặp gỡ Barrios. Barrios còn trình diễn trước "cầm thủ vĩ đại " nhân dịp đến thăm nhà Segovia, theo Klinger, người viết tiểu sử Barrios thì: “Barrios đã trình bày cả một “dòng thác” các tuyệt phẩm làm cho Segovia phải kinh ngạc... hơn nữa: ông ấy đã thua đứt. Sau gần 2 giờ diễn ông (Barrios) được bậc thầy (Segovia) chúc tụng. Có một tác phẩm Segovia rất thích và tỏ ý muốn chơi trong các buổi diễn của mình. Barrios thân ái đề tặng Segovia một bản sao. Thế nhưng tác phẩm này Segovia sẽ không bao giờ chơi. Lí do: nếu ông ta chơi nó với tất cả khả năng điêu luyện của mình ông sẽ nâng Barrios lên một tầm cao mà không ai có thể vươn tới, và như vậy sẽ làm giảm uy danh của chính mình”. Tác phẩm mà Segovia rất thích đó chính là “La Catedral”.

John Williams, người học trò xuất sắc nhất về mặt trình diễn của Andre Segovia nói về Barrios: "... là nhạc sĩ guitar hay là nhạc sĩ sáng tác, Barrios là người xuất chúng hơn cả cho dù người nghe có là ai đi nữa. Nhạc của ông có cấu trúc hay hơn, có nhiều chất thơ hơn và có mọi thứ nhiều hơn! Hơn nữa nó nhiều hơn một cách không lỗi thời. Tôi nghĩ ông đáng kể hơn cả Sor hay Guiliani với vai trò nhạc sĩ sáng tác, và hơn Villa-Lobos với vai trò nhạc sĩ viết cho guitar."
 

Lịch sử chứng minh rằng AGUSTIN BARRIOS MANGORÉ là danh cầm đầu tiên được thừa hưởng lợi ích của việc phát minh ra máy hát những năm đầu thế kỷ 20. Thuở ấy, các thiết bị ghi và tái tạo âm nhạc còn rất thô sơ nên rất ít nhạc sỹ có thể lưu lại các bản hòa âm của mình. Tuy nhiên, Barrios là ngoại lệ hiếm hoi, vì ông là một trong những nhà soạn nhạc – danh cầm Guitare vĩ đại của thời đại chúng ta.
 

Là người tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ ghi âm, là người thiết lập nền móng cho guitar bằng một phong cách nghiêm túc, là một nhà soạn nhạc với khối lượng tác phẩm khổng lồ, không một guitarist nào thời đó có thể làm được như Barrios.

Asturias

Isaac Albeniz viết tác phẩm này vào đầu những năm 1890, hầu như là ở London (nơi ông đang sống, biểu diễn và sáng tác). Bản Leyenda (Asturias) của Albeniz là tác phẩm thuộc loại “hình tượng”, trong đó mô tả những câu chuyện thần thoại, từ những trận sấm sét trong Kinh Thánh cho tới những trận động đất có sức tàn phá ác liệt. Ẩn chứa trong “Asturias – Leyenda” của ông là nỗi nhớ quê hương tha thiết, những âm thanh của giai điệu Flamenco, sự cổ kính và những giá trị của người Moor vùng Andalucia.

Milonga

Jorge Cardoso là 1 guitar composer nổi tiếng nhất của Argentina, ông vừa là đàn sĩ vừa là nhạc sĩ và dạy giáo khoa cho guitar (Ngoài ra còn là Bác sĩ Y khoa dạy ở Đại Học nữa) . Tác phẩm của ông cho guitar (khoảng 350 bản), rất nổi tiếng và được hâm mộ, nhiều bản cho tới nay đã trở thành kinh điển cho những tay chơi guitar quốc tế . Ngoài ra ông còn soạn nhạc cho dàn nhạc và những nhạc khí khác như cello, violin, sáo và cembalo.
Bản "Milonga" là bản nổi tiếng nhất của ông, được các guitarist trình bày và thu âm nhiều nhất. Nó nổi bật vì tiết điệu uyển chyển đặc biệt, và cộng thêm lối chyển cung bay bướm tạo nên 1 nét trữ tình rất lôi cuốn, độc đáo.

Caprichio Arabe

Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỉ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kĩ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, kĩ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt. Francisco Tárrega sáng tác không nhiều, chỉ viết 78 tác phẩm và 120 bản chuyển soạn của các nhạc sĩ như Beethoven, Chopin, Mendelssohn và các nhạc sĩ cùng thời như Albéniz.

Người Hà Nội

Nhạc sĩ Nguyễn Đinh Thi sáng tác bài hát này đầu năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ vừa mới nổ ra được ít ngày, sau khi cả Hà Nội đã lên đường sơ tán theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên gọi ban đầu là Bài hát của một người Hà Nội. Mặc dù bản thân nhạc sĩ từng thổ lộ ông không được học cao về âm nhạc, bài Người Hà Nội của ông thực sự đòi hỏi ca sĩ trình bày phải có trình độ thanh nhạc tốt bên cạnh một nhạc cảm tốt, cái nhạy bén vốn có trong tâm hồn người Tràng An.

Andrés Segovia (1893 - 1987)

Andres Torres Segovia (21/2/1893- 02/6/1987) là một nghệ sỹ guitar lừng danh ở thế kỷ 20. Ông được sinh ra tại Linares, Jaén, Tây Ban Nha. Ông được xem là người đưa cây đàn guitar có một vị trí trong dàn nhạc, đưa cây đàn guitar lên ngang hàng với các nhạc cụ như Piano và Violin. Ông được thế giới biết đến bởi những đóng góp to lớn, bao gồm: những sắc màu âm nhạc độc đáo và một phong cách biểu diễn không thể nhầm lẫn, ông thổi vào âm nhạc một sức sống mãnh liệt với cái nhìn đặc biệt. Các tác phẩm chuyển soạn chính cho cây đàn guitar của ông là từ các tác phẩm của Johann Sebastian Bach được viết vào cuối thời kỳ Baroque, ngoài ra ông cũng tự mình sáng tác ra một số tác phẩm cho cây đàn guitar.

Rescuedos de la Alhambra


Hầu như tất cả những ai đã yêu thích tiếng đàn guitar, nhất là guitar cổ điển đều không thể không biết đến nhạc sĩ - nghệ sĩ guitar tài năng người Tây Ban Nha – F. Tarrega. Thời mà F. Tarrega sống là thời mà guitar chỉ được xem là 1 nhạc cụ bình dân không được sánh ngang hàng với các nhạc cụ khác và không được đưa vào giảng dạy trong viện Hàn lâm. Tarrega tốt nghiệp với 2 bằng xuất sắc là biểu diễn piano và sáng tác nhưng không có bằng tốt nghiệp guitar.

Nhưng ông vẫn rất yêu thích và quý trọng cây guitar cổ điển. Vì thế ông đã tìm tòi. sáng tạo và thử nghiệm rất nhiều với cây đàn guitar và các kĩ thuật của guitar.  Có 3 mốc quan trọng nhất trong quá trình thử nghiệm kĩ thuật của ông được đánh dấu bằng 3 tác phẩm. Đó là: Recuedos De La Alhambra, Capricho arabe và Grand Jota.

Trong đó Recuedos De La Alhambra là giai đoạn thử nghiệm đầu tiên. Đây là 1 bản Etude mà ông dùng để thử nghiệm kĩ thuật tremolo cho guitar và chưa được đặt tên. Sau này do quá thành công mà ông mới đặt tên cho nó là Recuedos De La Alhambra(tưởng nhớ Alhambra) trong đó Alhambra là 1 cung điện ở thành phố tại thành phố Madrid, nơi lưu giữ rất nhiều kỉ niệm và bằng chứng lịch sử của thành phố này và của Tấy Ban Nha

Như cánh vạc bay

Monday, March 21, 2011

Cũng không biết từ bao giờ nữa, mình đã nghe Như Cánh Vạc Bay... Hiểu gì về nó? Có lẽ là không gì cả. Chỉ đơn giản là thích, nghe và cảm nhận. Cảm nhận bằng tất cả tình cảm của mình
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh


Diễm xưa

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”,

Bèo dạt mây trôi

Bèo dạt mây trôi là một bài hát dân ca Việt Nam, với nội dung thể hiện nỗi nhớ của người con gái/chàng trai đối với người yêu ở phương xa. Ca từ trong bài Bèo dạt mây trôi rất giản dị, gần gũi với nông thôn Việt Nam, sử dụng những hình tượng nghệ thuật như cánh bèo, chim, cá, mây, trăng, gió v.v. tạo ra một khung cảnh nhớ nhung sâu lắng. Cảnh vật nông thôn thời xưa thể hiện rõ nét, không gian và thời gian như nhập vào một, chất trữ tình mạch lạc.

Se chỉ luồn kim

Kẻ săn tìm quan họ như lạc lối đưa chân trong một trời âm thanh giữa thơ và nhạc…Cứ thế hết canh hát này sang canh hát khác, kẻ săn tìm quan họ như lạc lối đưa chân trong một trời âm thanh giữa thơ và nhạc xao xuyến lòng người...

Lưu thủy

Những cây đại thụ trong làng guitar Việt Nam



" Nửa thế kỷ trước họ đã tìm nhau thuở mười tám, đôi mươi giữa kinh thành Hà Nội và tụ quần thành nhóm Thất Cầm. Cuộc giao hòa của họ đã làm ra tiếng đàn riêng biệt của từng người. Hải Thoại duyên dáng đằm thắm. Quang Tôn tư duy, ngẫm nghĩ. Nguyễn Văn Tỵ mạnh mẽ, hồn nhiên. Phạm Văn Phúc thiết tha, day dứt. Vũ Bảo Lâm nồng điệu, thành thực. Trường Giang hào hoa, quyến rũ. Đặng Văn Khôi mê đắm, kiếm tìm. Tiếng guitare của họ đã thấm vào tuổi trẻ ngày ấy. Biết bao người đã dấn thân vào bụi trường chinh khói lửa từ tiếng đàn của họ. Và có khi trước lúc ngã xuống, trong tâm hồn vẫn còn vương vấn những tiếng lòng dìu dặt đó.Bây giờ, khi việc cần có một bản nhạc soạn cho guitare là quá dễ dàng, ta mới thấy quý giá biết bao ngày ấy, các anh đã mày mò tự nghe đĩa, tự ghi ra những bản nhạc như thế bằng niềm say mê vô bờ bến, bằng cả tình yêu tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước..."

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha

Lới lơ

Tiếng chèo được cất lên từ những cô gái, có lúc êm ả khoan thai, lúc thúc giục, khi thì nhẹ nhàng da diết… Bao năm xa quê mà cái khoảnh khắc chứa chất đầy thương yêu ấy vẫn tươi trẻ tinh khôi và nguyên vẹn. Bài nhạc chèo Lới lơ, một trong số những "tuyệt phẩm" chèo được NS Hải Thoại chuyển soạn cho guitar dưới tiếng đàn đầy mê hoặc của NS. Lê Thu.


Huyền thoại Thất cầm


Nhóm “Thất cầm” (7 nghệ sĩ guitar) giờ đã là một huyền thoại trong lòng người yêu guitar Hà Nội. Chính các nghệ sĩ trong nhóm đã “truyền lửa” cho giới trẻ Hà thành yêu guitar, hình thành các lớp học, tạo thương hiệu cho cây đàn guitar trong số các loại nhạc cụ, và giờ đây các lớp học guitar vẫn thu hút được nhiều thanh niên tham gia.

Người nghệ sỹ già trên căn gác nhỏ (Phần II)


Tác giả: Tequila trên vantuyen.netBạn cùng lớp học đàn của tôi có nhiều. Tôi chỉ mang máng nhớ họ, vì nhiều đứa chỉ học hơn một tháng, hai tháng là bỏ không đi học nữa. Một phần vì chúng không thích, chậm tiến bộ, một phần vì hễ cứ tiến bộ là bố mẹ chúng chuyển cho chúng đi học ở nơi khác. Chỉ có tôi là suốt mấy năm trời, chủ nhật nào cũng đến với ông. Những lúc nghỉ giữa giờ, tôi thường hay sang lớp khác nghe bọn học đàn organ điện tử. Bản nào chúng nó chơi cũng hay.


Người nghệ sỹ già trên căn gác nhỏ (Phần I)


Tác giả: Tequila trên vantuyen.net

Để cắt nghĩa thế nào là cuộc sống Ta đằm mình như trái ớt giữa chén tương Càng dằm nát càng cay càng tơi tả Rồi hít hà cười khóc với yêu thương

Người Nga tầm hai mươi tuổi, tóc vàng buông dài, gương mặt xương xương. Anh ta mặc áo phông trắng, quần bò chất mịn, đi giày trắng, chơi bản Lịch sử tình yêu. Tôi thường thấy những người chơi vĩ cầm giống như anh ta, nếu rời cây đàn ra thì anh ta gầy guộc và mỏng manh yếu đuối. Nhưng khi cầm cây vĩ cầm lên, thì anh ta có một sức mạnh nào đó đủ sức sai khiến tất thảy. Tôi bỏ mấy đồng tiền vào cái hộp đàn anh đặt dưới chân, rồi đứng vào một góc, tựa lưng vào tường và lắng nghe, để cho anh ta dẫn dắt mình đi, đến bất cứ đâu, đến một nơi nào thuộc thế giới này hay không thuộc thế giới này.
 

2009 ·Guitar Corner by TNB